Ở Việt Nam, thể loại phim chính kịch lịch sử luôn chiếm số lượng khiêm tốn trong dòng chảy của điện ảnh đương đại. Bởi lẽ đó, sự thành công của phim Đào, phở và piano khi trở thành hiện tượng trong rạp chiếu bóng là một chuyện đáng mừng khi sử Việt có cơ hội khoác một tấm áo mới thay cho những con số, dấu mốc khô khan trong sách giáo khoa. Ngoài việc kể lại 60 ngày đêm khói lửa bảo vệ Thủ đô với tinh thần “cảm tử để tổ quốc quyết sinh” của dân tộc, bộ phim còn gợi mở về tàn dư của chủ nghĩa lãng mạn ở Việt Nam sau 1945 đầy thơ mộng nhưng cũng đầy nuối tiếc.
Chủ nghĩa lãng mạn ở Việt Nam giai đoạn (1930-1945)
Đầu thế kỷ 18, Chủ nghĩa lãng mạn bắt đầu xuất hiện ở Châu Âu, hoàn toàn đối lập với Chủ nghĩa tân cổ điển khi chuyển từ đề cao cái “ta” của cộng đồng sang thăng hoa cái “tôi” cá nhân, tôn vinh những tình cảm chủ quan của con người. Với chủ nghĩa lãng mạn con người gần như đoạn tuyệt với cuộc sống thực tế, vứt bỏ mọi quy tắc cứng nhắc để sống sống theo cảm xúc và đam mê riêng.
Như cách nhà văn Maxime Gorki gọi Pháp là “nền văn học chủ đạo của châu Âu”, dù được khởi nguồn từ Anh và Đức nhưng chủ nghĩa lãng mạn lại rực rỡ và nở rộ ở Pháp, nơi mà sự lãng mạn vốn đã nằm trong huyết quản từng con dân. Để rồi từ 1858, đi theo dấu chân kẻ xâm lược, chủ nghĩa lãng mạn của Pháp cũng bắt đầu du nhập dần vào văn hóa An-nam-mít và ảnh hưởng sâu sắc tới một bộ phận không nhỏ những người con Việt. Từ đó, chủ nghĩa lãng mạn thấm đẫm trong văn học, hội họa, âm nhạc – đặc biệt là giai đoạn văn hóa tiền chiến 1930 – 1945 với nhiều phong cách và cá tính có một-không-hai như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Thạch Lam, Nguyễn Tuân.

Nhà thơ Tố Hữu từng nhận xét về phong trào Thơ Mới: “Một nhu cầu tự do và phát huy bản ngã”. Đó là tiếng nói của những con người có văn hóa, có lương tri, tìm cách lý tưởng hóa một xã hội rối ren nửa thực dân – nửa phong kiến. Tuy nhiên, sau Cách mạng tháng Tám, dòng chảy này dần bị thay thế bởi chủ nghĩa hiện thực cách mạng – để lại chủ nghĩa lãng mạn như một tàn dư đẹp đẽ nhưng mong manh.
Đào nở, phở nóng, tiếng dương cầm giữa bom rơi đạn lạc
Phim Đào, phở và piano được đặt ở bối cảnh trận chiến Đông – Xuân kéo dài từ cuối năm 1946 đến đầu năm 1947 ở Hà Nội, giai đoạn tàn dư của chủ nghĩa lãng mạn ở Việt Nam. Dù những thước phim màu u ám tái hiện thủ đô đang bị nhấn chìm trong súng, đạn và máu. Nhưng trong cảnh bom bay đạn lạc đó, chủ nghĩa lãng mạn được đạo diễn khéo léo lồng ghép trở thành chất kết dính toàn bộ câu chuyện và các nhân vật với nhau. Tình yêu hiện hữu trong muôn hình vạn trạng, từ tình yêu đôi lứa, tình yêu nghệ thuật, tình yêu đức tin hoặc đơn giản là tình cảm giữa người và người.

Mượn lời của Tiến sĩ Nguyễn Phương Mai đã lột tả: “Ở thời điểm lịch sử ấy, giai cấp tư sản chưa bị bôi đen thành “một lũ đỉa hút máu dân nghèo”, tầng lớp trí thức chưa bị gạt ra ngoài lề, người nghệ sĩ chưa trở thành công cụ tuyên truyền, tình yêu lứa đôi chưa bị coi là “đồi trụy” và tôn giáo chưa phải là “thuốc phiện của nhân dân”. Khi ranh giới giữa lý tưởng cá nhân và lý tưởng cộng đồng không được phân định rõ ràng, thì sự hi sinh dù đẹp đẽ cũng có thể trở thành khuôn mẫu dễ đoán.
Bởi lẽ đó, dù đang đứng giữa ranh giới mong manh sinh tử, các nhân vật trong phim vẫn hồn nhiên thể hiện những khát khao rất dung dị, rất người những khát khao chưa bị chủ nghĩa anh hùng làm lu mờ, cũng chưa bị lý tưởng cách mạng đồng hóa. Họ không chiến đấu như những cỗ máy vì một biểu ngữ tuyên truyền, mà chiến đấu vì tình yêu – với con người, với nghệ thuật, với sự sống. Họ muốn được sống cuộc đời mình chọn, và nếu phải hi sinh, thì đó là sự lựa chọn xuất phát từ nội tâm không phải mệnh lệnh. Đó chính là tinh thần lãng mạn: tình yêu Tổ quốc nảy mầm từ đời sống cá nhân, từ lòng người, chứ không đến từ áp đặt.

Nằm ở điểm chạm chuyển giao giữa Chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực, phim Đào, phở và piano ung dung, tự tại đứng giữa chiến tranh và hòa bình. Phim sử dụng nhiều phép nghệ thuật tương phản như chuyển đổi nhạc từ ca trù thành bài La Vie En Rose, hình ảnh thiếu nữ Việt Nam bên đàn dương cầm, ngài “me-xừ” (monsieur) treo tranh La Liberté guidant le peuple (1830) của Pháp nhưng thích nghe hát ả đào để tái hiện một thời kinh kỳ giao thoa các nền văn hoá.
Điều “kém lãng mạn” của Đào, phở và piano
Các tranh cãi về tính xác thực lịch sử như từ ngữ không chuẩn thời kỳ, chiếc xe tăng Sherman M4, hay chi tiết tạo hình nhân vật tuy khiến người xem tinh ý lăn tăn nhưng không phải điều “kém lãng mạn” thực sự. Bởi những yếu tố đó không làm suy giảm mạch cảm xúc hay chủ đề cốt lõi của phim.
Điều đáng tiếc hơn nằm ở chỗ: Đào, phở và piano đã chạm rất gần tới một cách kể chuyện lịch sử tinh tế, đầy cảm xúc và đề cao cá tính con người. Khi đã dày công dựng nên một không gian lịch sử tinh tế, giàu cảm xúc, đậm chất con người, phim lại khép lại bằng một kết cục quen thuộc: cái chết vì lý tưởng. Dù được thể hiện nhẹ nhàng, không khẩu hiệu hay áp đặt, nhưng lựa chọn kết thúc như vậy vẫn vô tình kéo phim trở lại “quỹ đạo” chung của nhiều phim chính kịch lịch sử nơi cái tôi cá nhân thường phải hòa tan vào cái ta của cộng đồng.
Chính tại điểm này, chủ nghĩa lãng mạn mà bộ phim dày công gây dựng với khát vọng sống, yêu, sáng tạo đã không có cơ hội phát triển đến tận cùng. Các nhân vật chiến đấu và hi sinh không hẳn vì lý tưởng cách mạng mà vì mong muốn sống cuộc đời họ chọn. Nhưng cái chết của họ dù đầy phẩm giá vẫn khiến người xem phân vân: Liệu họ đang được sống trọn vẹn với cảm xúc, hay đang phải trả giá cho một lý tưởng đã lấn át nội tâm?
Các vấn đề gây tranh cãi về Đào, phở và piano như ngôn ngữ trong phim không phù hợp với giai đoạn 1946-1947 ví dụ như nhân vật sử dụng từ “piano” thay cho “dương cầm”, chiếc xe tăng Sherman M4 xuất hiện ở trong phim là không chuẩn với lịch sử hoặc các tiểu tiết rất nhỏ về tạo hình nhân vật hẳn nhiên không phải là điều “kém lãng mạn” bởi lẽ những yếu tố này hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến nội dung.
Thế nhưng, dù không o ép những câu khẩu hiệu sáo rỗng, phim Đào, phở và piano vẫn phần nào không thoát khỏi quỹ đạo truyền thống của dòng phim lịch sử khi cái kết rốt cuộc vẫn quy về lý tưởng tập thể. Dù các nhân vật sống rất thật với cảm xúc, với tình yêu, và từng có cơ hội phát triển như những con người cá biệt, thì lựa chọn cuối cùng của họ ngẩng cao đầu ra trận, chấp nhận hi sinh vẫn dễ khiến người xem liên tưởng tới cái “ta” chung của cộng đồng hơn là cái “tôi” riêng biệt. Chính điều đó làm lu mờ phần nào bản sắc lãng mạn mà bộ phim đã cố gắng xây dựng từ đầu. Trong bài viết Phân cực chính trị trong Đào, Phở và Piano của Tiến Sĩ Nguyễn Phương Mai cũng có lời nhận xét về vấn đề này: “Thật tiếc cho một bộ phim có tiềm năng hàn gắn, những sự miệt thị và tôn vinh quá đà đã khiến “cảm xúc cực đoan” tiếm ngôi trở thành nhân vật chính”.
Theo dòng lịch sử, sau Cách mạng tháng 8, chủ nghĩa lãng mạn chỉ còn là tàn dư, chiến tranh làm những tâm hồn nồng nhiệt trở nên hoang mang, dao động hoặc cứ thế chờ thời. Để rồi như nhà văn Fritz Leiber từng nói: “Những cuộc chiến tranh lớn nhất là những cuộc chiến tranh tư tưởng.” Cuối cùng, thứ chôn vùi những tâm hồn đó chẳng phải là thuốc súng, mà là lý tưởng sống, họ bế tắc cùng quẫn với những điều mà bản thân chưa bao giờ muốn. Đó là lý do tại sao, ông họa sĩ trong phim chẳng tìm thấy đam mê khi vẽ hình ánh người lính hào hùng, người thiếu nữ trẻ tin vào tình yêu hơn là lý tưởng cách mạng, anh cảm tử quân làm nhiệm vụ nhưng cũng không quên mang nhành đào mang về chiến lũy.
Lời kết
Đặt ở bối cảnh hiện đại với một tâm hồn phóng khoáng của người viết bài, phim Đào, phở và piano vẫn xứng đáng được ủng hộ. Bởi Đào, phở và piano phần nào tái hiện thành công được một thời kinh kỳ giao thoa các nền văn hóa và có bước tiến mới trong khái niệm “hi sinh” khi ngạo nghễ mang chủ nghĩa lãng mạn lên một bộ phim chính kịch kịch sử. Vẻ đẹp trữ tình của Đào, phở và piano dễ dàng tiếp cận được với giới trẻ sống trong thời bình. Với kinh phí 20 tỷ để làm một bộ phim lịch sử có cơ hội đại chúng hóa thì quả thực đoàn làm phim đã phải “tận hiến” rất nhiều cho tác phẩm này.

Bộ phim được bác đạo diễn (kiêm biên kịch) Phi Tiến Sơn thực hiện khá tâm huyết, các bài góp ý của khán giả về nội dung phim đều được bác đón nhận một cách cởi mở. Nói về diễn xuất, dành sự ngưỡng mộ đặc biệt cho chú Trần Lực khi đã thể hiện đúng tinh thần người nghệ sỹ theo Chủ nghĩa lãng mạn thật đẹp. Cặp nam nữ chính (Cao Thị Thùy Linh và Doãn Quốc Đam) đóng ổn, diễn cảnh nóng không mang dáng dấp của những thước phim đồi trụy mà thực sự có tình. Các diễn viên phụ còn lại như cậu bé đánh giày, vợ chồng ông bán phở, vai “me-xừ” và hai cô ả đào đều tròn trịa vai. Mong rằng, sau Đào, phở và piano nền điện ảnh nước nhà có cơ sở đầu tư thêm nhiều phim lịch sử, khuyến khích các nhà làm phim mạnh dạn “tận hiến” kể lại văn hóa – lịch sử Việt Nam qua màn ảnh rộng đương đại.





Leave a comment