Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Việt Nam không đơn độc. Từ khắp năm châu, những phong trào phản chiến đã được dấy lên mạnh mẽ, vang dội từ đường phố Paris, London, Tokyo cho tới ngay trên đất Mỹ, nơi khởi nguồn của cuộc chiến. Sự ủng hộ ấy không chỉ dừng ở những tuyên bố hay viện trợ vật chất, mà còn là những bước chân xuống đường, những tiếng hô hào phản đối, những cuộc tranh đấu bền bỉ, tất cả cùng hướng về một khát vọng: ngày Việt Nam được ngẩng cao đầu trong sáu chữ thiêng liêng “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”.
Chiến tranh không chỉ là vấn đề “nội bộ” của Việt Nam và Mỹ
Những năm 1960, khi Mỹ liên tục gia tăng viện trợ, đưa “cố vấn quân sự” Mỹ vào miền Nam Việt Nam, làn sóng phản đối đã bắt đầu âm ỉ trong giới trí thức, sau đó lan dần ra các tầng lớp khác trong xã hội Mỹ. Không ít người Mỹ bắt đầu đặt câu hỏi: Tại sao con em họ lại phải chiến đấu ở một vùng đất cách xa nhà hơn 8000 dặm và phải hy sinh vì thứ lý tưởng mơ hồ được gọi là “tự do ở Đông Nam Á”?
Đến tháng 3 năm 1965, khi 3500 lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, Mỹ chính thức tham chiến trực tiếp tại Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt mới và làm bùng nổ phong trào phản chiến trên toàn nước Mỹ. Một trong những lực lượng tiên phong là Hiệp hội Sinh viên Dân chủ (Students for a Democratic Society – SDS), với các cuộc tuần hành quy mô lớn thu hút hàng chục nghìn người tại các thành phố như Washington D.C., Berkeley và New York.

Không chỉ làn sóng sinh viên, các tầng lớp nhân dân khác cũng lần lượt xuống đường từ nhà giáo, nhà báo, nghệ sĩ cho đến cựu chiến binh và cả binh lính đương chức. Phong trào phản chiến lan rộng đến mức, nhiều điểm tuyển quân bị phong tỏa, nhiều cuộc biểu tình lớn đã nổ ra.
Năm 1966, nhà vô địch quyền Anh thế giới Muhammad Ali đã mạo hiểm sự nghiệp khi từ chối nhập ngũ vì niềm tin tôn giáo và quan điểm phản đối chiến tranh về mặt đạo đức. Các nhạc sĩ John Lennon, Joni Mitchell, Joan Baez và Phil Ochs – những nghệ sĩ có sức ảnh hưởng ở Mỹ góp tiếng nói phản chiến chiến tranh tại Việt Nam.
Năm 1967, Martin Luther King Jr. – biểu tượng của phong trào dân quyền, đã công khai phản đối chiến tranh Việt Nam trong bài diễn văn nổi tiếng “Beyond Vietnam: A Time to Break Silence”. Trong bài phát biểu này, ông gọi chiến tranh là một “tội ác chống lại người nghèo”, cho rằng Mỹ không thể rao giảng dân chủ tại quê nhà nếu tiếp tục gieo rắc bom đạn ở một đất nước xa xôi.
Sau Tết Mậu Thân 1968, làn sóng phản chiến càng lan rộng khắp các bang trên toàn nước Mỹ. Trong số những lực lượng mạnh mẽ nhất có tổ chức Vietnam Veterans Against the War (VVAW), nơi quy tụ các cựu binh từng trực tiếp tham chiến tại Việt Nam. Họ đã nhìn thấy, đã trải nghiệm và nay đứng lên vạch trần sự phi nghĩa của cuộc chiến, đấu tranh cho công lý.
Ngay từ tháng 9 năm 1966, khi chiến tranh Việt Nam bắt đầu leo thang và lính Mỹ ngày càng hiện diện nhiều hơn tại miền Nam, một cuộc khảo sát của Gallup cho thấy dấu hiệu ban đầu của sự hoài nghi trong lòng công chúng Mỹ. Trong một khảo sát, Gallup đã đặt câu hỏi:
“Would you vote for continuing the war in Vietnam, or for withdrawing our troops during the next few months?” (Lược dịch: “Bạn sẽ bỏ phiếu để tiếp tục cuộc chiến ở Việt Nam, hay để rút quân trong vài tháng tới?”)
Kết quả cho thấy chỉ 48% người Mỹ ủng hộ tiếp tục cuộc chiến, trong khi 35% muốn rút quân và 17% còn do dự hoặc có ý kiến khác. Những con số này cho thấy rằng, ngay cả trước khi Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 hay thảm sát Mỹ Lai bùng nổ, người dân Mỹ đã bắt đầu nhận ra cái giá thực sự của một cuộc chiến tranh mơ hồ về mục tiêu và ngày càng khó biện minh cho chính phủ của họ. Khi phải đối diện với lựa chọn cụ thể giữa tiếp tục và rút lui, một phần lớn dân chúng đã không còn sẵn sàng ủng hộ cuộc chiến, báo hiệu sự lung lay niềm tin từ rất sớm, trước khi làn sóng phản đối chính thức trỗi dậy.

Năm 1971, trong chiến dịch Operation Dewey Canyon III (ngày 19 và 23 tháng 4), tại Washington D.C., hàng trăm nghìn người đã xuống đường phản đối chiến tranh mà Mỹ đang thực hiện tại Việt Nam, là một trong những biểu tình lớn nhất kể từ cuối thập niên 1960. Trong đó, khoảng 800 cựu binh những người từng chiến đấu tại Việt Nam đã ném trả huân chương, ruy băng và mũ quân phục xuống bậc thềm Quốc hội Mỹ. Hình ảnh ấy trở thành biểu tượng mạnh mẽ cho tiếng nói phản kháng đến tận cùng: ngay tại nơi từng phát động cuộc chiến, họ đã dám quay lưng lại với quyền lực không phải vì nước khác, mà vì chính phẩm giá con người của họ.
Cũng chính năm 1971, khi tờ The New York Times và The Washington Post công bố những tài liệu mật tiết lộ sự thật về cuộc chiến Việt Nam, bao gồm cả việc chính quyền Mỹ đã cố tình che giấu quy mô và tội ác ở Việt Nam, chính quyền Nixon đã tìm cách ngăn chặn. Vụ việc được đưa ra Tòa án Tối cao và kết thúc với chiến thắng thuộc về báo chí, khẳng định quyền công bố thông tin vì lợi ích công chúng. Sự kiện này không chỉ làm lung lay niềm tin của người dân Mỹ vào chính phủ, mà còn tiếp thêm động lực cho phong trào phản chiến lan rộng khắp thế giới.
Phản chiến lan rộng: không chỉ là phong trào, mà là lương tri
Không chỉ tại Mỹ, phong trào phản đối chiến tranh tại Việt Nam đã vượt ra biên giới và trở thành tiếng nói toàn cầu. Tại Pháp, giới trí thức như Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir ký tên vào tuyên ngôn phản chiến, tổ chức các buổi hội thảo và xuống đường tuần hành. Tại Anh, Vietnam Solidarity Campaign liên tục huy động hàng chục nghìn người biểu tình, đỉnh điểm là cuộc tuần hành năm 1968 trước Đại sứ quán Mỹ ở London.
Báo chí đóng vai trò thiết yếu trong việc thức tỉnh lương tri công chúng. Bức ảnh của Eddie Adams ghi lại khoảnh khắc một sĩ quan Việt Cộng bị xử bắn giữa đường phố Sài Gòn, hay loạt phóng sự điều tra của Seymour Hersh về vụ thảm sát Mỹ Lai, đã trở thành những “làn sóng chấn động” trong lòng xã hội. Tạp chí Life cùng nhiều tờ báo lớn đã không ngần ngại phơi bày những góc khuất khốc liệt của cuộc chiến, buộc chính phủ không thể tiếp tục che đậy. Những tờ tạp chí như Der Spiegel (Đức), Le Monde (Pháp), The Times (Anh) liên tục đăng tải các hình ảnh, điều tra và bài viết lên án hành vi quân sự Mỹ tại Việt Nam, lan tỏa thông tin đến thế hệ trí thức, sinh viên và nghệ sĩ châu Âu, đẩy mạnh các cuộc biểu tình phản chiến từ Paris đến London, Stockholm.


Hình ảnh Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan, Cảnh sát trưởng Quốc gia Việt Nam Cộng hòa, bắn vào đầu một sĩ quan Việt Cộng bằng một phát súng ngắn trên đường phố Sài Gòn, Việt Nam (chụp lại vào ngày 1 tháng 2 năm 1968). Bức ảnh do phóng viên ảnh Eddie Adams chụp đã giành giải Pulitzer vì thể hiện một cách trực diện và tàn khốc thực tế chiến tranh, gây chấn động dư luận quốc tế, làm dấy lên tranh cãi sâu sắc về đạo đức.

Trên trang nhất số ra ngày 6 tháng 5 năm 1968, nhật báo Le Monde (Pháp) dành vị trí nổi bật để đưa tin về chiến tranh Việt Nam với dòng tít: “Les pertes sont plus élevées que jamais” (Tổn thất cao chưa từng có) và “Les conversations de Paris piétinent” (Các cuộc đàm phán tại Paris đang giậm chân tại chỗ). Hình ảnh này không chỉ cho thấy mức độ khốc liệt của cuộc chiến, mà còn phản ánh sự quan tâm và thái độ phê phán ngày càng rõ nét của báo chí châu Âu đối với chính sách quân sự của Mỹ tại Việt Nam.
Ở các nước Đông Âu, phong trào phản chiến thể hiện qua phim ảnh, nghệ thuật, triển lãm và thơ ca như bộ phim tài liệu Vietnam (1955) của Roman Karmen, phim Far from Vietnam (1967) của Jean-Luc Godard, tuyển tập thơ Những bông hoa của Việt Nam (1972), hay phim Em bé Hà Nội (1974), hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô đã được trình chiếu rộng rãi như một tiếng nói đầy xúc cảm về hậu quả của chiến tranh. Tại Nhật Bản, những nhóm công nhân và sinh viên tổ chức cáccuộc biểu tình, phản đối việc Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Nhật để tiếp tế chiến tranh.


Một trong những sự kiện nổi bật nhất của phong trào phản chiến ở Nhật Bản là Folk Guerrilla Concerts diễn ra tại quảng trường lối ra phía Tây ga Shinjuku vào mùa xuân và mùa hè năm 1969. Đây là những buổi hòa nhạc phản chiến ngẫu hứng do các nhạc sĩ gắn bó với Beheiren nhóm hoạt động dân sự do Makoto Oda lãnh đạo, nổi tiếng với chiến dịch chống Chiến tranh Việt Nam và giúp đỡ binh sĩ Mỹ đào ngũ. Ban nhạc được gọi là “folk guerrillas” đã biến những buổi diễn đường phố thành các cuộc tụ tập và biểu tình hàng tuần, chiếm lĩnh không gian công cộng ngay giữa trung tâm Tokyo. Các buổi nhạc mang đậm tinh thần dân ca phản kháng, vừa là sân khấu nghệ thuật vừa là diễn đàn chính trị, nơi tiếng hát và thông điệp chống chiến tranh hòa quyện, truyền cảm hứng cho giới trẻ và các nhà hoạt động thời bấy giờ.
Tại Thụy Điển, Việt Nam được xem là biểu tượng của phong trào phản đế. Vào ngày 21 tháng 2 năm 1968, thủ tướng Olof Palme (lúc này là Bộ trưởng Giáo dục) đã cùng với Đại sứ Việt Nam tại Moscow Nguyễn Thọ Chân dẫn đầu cuộc rước đuốc tuần hành trên đường phố Stockholm để phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Sự kiện này đã gây chấn động dư luận tại Thuỵ Điển và quốc tế lúc đó, thúc đẩy phong trào phản chiến tại Mỹ. Hình ảnh này tiếp tục được báo chí quốc tế đăng tải rộng rãi, đã gây chấn động chính giới phương Tây lúc bấy giờ khi thấy một nhà lãnh đạo châu Âu sẵn sàng công khai đứng về phía phong trào phản chiến.

Phong trào phản chiến kéo dài khoảng một thập kỷ, từ giữa thập niên 1960 đến giữa thập niên 1970 cho Việt Nam không chỉ tạo nên áp lực chính trị, mà còn đánh thức lương tri thế giới rằng không có tự do nào được xây dựng trên xác người, không có “công lý” nào đi kèm với bom đạn. Dù không thể trực tiếp cầm súng chiến đấu, nhưng những tiếng nói phản chiến trên khắp thế giới, âm thầm hay dữ dội đều đã tạo nên sức ép không nhỏ với chính quyền Mỹ. Trước làn sóng phản đối ngày càng dữ dội trong nước và quốc tế, đến năm 1973, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris và rút quân khỏi Việt Nam. Hai năm sau, vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước Việt Nam chính thức thống nhất. Đó là chiến thắng của dân tộc Việt Nam, một chiến thắng giành được bằng ý chí, máu xương và lòng quả cảm. Nhưng bên cạnh súng đạn, còn có một lực lượng thầm lặng mà bền bỉ với những cuộc tuần hành, những bản tuyên ngôn, những tiếng nói phản chiến từ khắp nơi trên thế giới.
Sức mạnh lương tri có đồng thanh vang lên một lần nữa?
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng tinh thần phản chiến đó vẫn còn nguyên sức nặng. Bởi đó là một ký ức tập thể về lương tri là lời nhắc rằng:
Bạn có thể là người ngoài cuộc về mặt địa lý, nhưng không bao giờ là người ngoài cuộc về mặt đạo đức.
Thế giới ngày nay chứng kiến một diện mạo hoàn toàn mới của làn sóng phản kháng: mạng xã hội trở thành mặt trận, nơi hình ảnh và thông tin từ những vùng chiến sự như Palestine, Ukraine… lan truyền nhanh chóng và sâu rộng hơn bao giờ hết. Nếu phong trào phản chiến trước kia cần hàng tháng để tổ chức biểu tình hay xuất bản một bài báo, thì ngày nay chỉ cần vài giờ là sự thật đã đến với hàng triệu người. Sự khác biệt này đặt ra một câu hỏi lớn: Chúng ta với đầy đủ phương tiện trong tay nhưng vẫn chọn làm ngơ hay đứng về phía những giá trị phổ quát của nhân loại?
Trở về thực tại, trong bối cảnh tiếng kêu cứu từ Palestine ngày càng tuyệt vọng, không ít người Việt trẻ chọn lên tiếng, nhưng cũng không ít ý kiến dè bỉu rằng “chưa đóng góp gì cho đất nước đã lo chuyện thiên hạ.”. Thế nhưng, công lý không cần hộ khẩu và lòng trắc ẩn không có biên giới. Sự lên tiếng vì một nỗi đau chung của nhân loại không làm ai bớt yêu nước. Ngược lại, đó là một phần phản ánh bản lĩnh đạo đức rằng ta không chỉ sống cho riêng mình. Người Việt từng chiến thắng nhờ cả sức mạnh trong nước lẫn sự ủng hộ ngoài biên giới, thì hôm nay, Palestine hay bất kỳ dân tộc nào cũng có thể tìm thấy hy vọng từ cùng một nguồn sức mạnh đó.

Đặc biệt là người Việt, dân tộc từng nếm trải trọn vẹn nỗi đau chiến tranh, hiểu rõ cảm giác đất nước được khởi sinh một lần nữa trong hòa bình quý giá ra sao lại càng không có lý do để im lặng trước bất công. Dù bạn chọn cất lời công khai hay lặng lẽ ủng hộ điều đúng đắn, dù là khởi xướng một chiến dịch hay chỉ sẻ chia những gì mình có thì cách thể hiện không quan trọng bằng tấm lòng. Ngay cả khi bạn chọn thờ ơ trước tội ác, cũng xin đừng buông lời phán xét những ai đã, đang và sẽ lên tiếng vì chính lương tri của họ.
Trong một thế giới vốn đã đầy tổn thương, công lý không cần hộ khẩu và lòng trắc ẩn không có biên giới.





Leave a comment