Trong chuyến ra Hà Nội vào tháng 9/2024, tôi đã ghé qua Bảo tàng Văn Học Việt Nam để thưởng lãm. Tôi vẫn nhớ cảm giác lần đầu tìm đến nơi này, một chút băn khoăn khi con đường dẫn vào Bảo tàng khá khuất nẻo, quanh co và gần như không có biển chỉ dẫn, khiến tôi lúc đó hoang man vì sợ sai địa chỉ hoặc tài xế đang đi đường lạ… Nhưng khi tới nơi rồi mới thấy mọi thứ khác hẳn, không gian trưng bày rộng và đồ sộ hơn nhiều so với những gì tôi hình dung ban đầu, khiến tôi không khỏi choáng ngợp.

Sau khi dành cả buổi chiều để tham quan, tôi nghĩ với bất cứ ai từng có rung cảm với văn hóa nói chung và văn học Việt Nam nói riêng thì đây là nơi bạn nên ghé qua một lần.

Bảo tàng Văn học Việt Nam, nơi ký ức văn học được giữ lại

Hiện diện từ năm 2015, Bảo tàng Văn học Việt Nam như một không gian trưng bày, lưu giữ ký ức và kể lại hành trình của văn học dân tộc qua những lớp lang của thời gian. Đây cũng là bảo tàng duy nhất ở Việt Nam nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, giáo dục về nền văn học của dân tộc. 

Cách trung tâm Hà Nội 6,2 km về phía Bắc, tọa lạc tại 275 Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, TP Hà Nội. Như phía trên tôi có viết trải nghiệm đường đến bào tàng có khiến tôi hoang man, nhưng sau đó tôi mới biết được lý do tại sao bảo tàng lại chọn địa điểm tách biệt này để xây dựng. Vì vào những năm 60–70 của thế kỷ trước, mảnh đất này từng là Trường Viết văn Quảng Bá của Hội Nhà văn Việt Na, nơi đào tạo và bồi dưỡng nhiều cây bút trẻ cho văn học nước nhà.

Bảo tàng Văn học Việt Nam không chỉ lưu giữ các tác phẩm làm nên tên tuổi của những cây bút để lại dấu ấn trong văn học Việt.

Bảo tàng được tổ chức như một tổng thể không gian với quy mô mở, gồm hai khu trưng bày chính là ngoài trời và trong nhà. Mỗi không gian được thiết kế với những dụng ý riêng về cách dẫn dắt và trải nghiệm, như hai mạch kể khác nhau của cùng một câu chuyện văn học. Chính trong tổng thể đó, màu sắc và ánh sáng trở thành một phần của trải nghiệm. Bảo tàng được sơn phết màu vàng ươm, dưới ánh nắng buổi chiều hun nóng mọi vật, sắc vàng ấy không đứng yên mà thay đổi theo ánh sáng, khiến không gian nhìn mỗi lúc một khác, linh động hơn trên nền kiến trúc rộng và đa sắc.

Những danh nhân văn học được người đời ngưỡng vọng

Bao quanh bên ngoài bảo tàng (phần trưng bày ngoài trời) là các bức phù điêu gốm trình hiện văn học dân gian Việt Nam. Những câu chuyện cổ tích và truyền thuyết quen thuộc dần hiện ra qua hình khối và đường nét, từ An Dương Vương xây thành ốc, Mỵ Châu–Trọng Thủy, đến Sự tích trầu cau hay Tấm Cám. Những hình ảnh này như những mảnh ký ức đã song hành cùng nhiều thế hệ, lặng lẽ hiện diện trên các bức tường của bảo tàng.

Bên cạnh đó, không gian còn quy tụ 20 tượng danh nhân văn học thời kỳ cổ-trung đại, gợi mở cảm thức ngưỡng vọng đối với những người đã đặt nền móng cho văn học dân tộc.

Dù có vài gương mặt vô tình vắng mặt, nhưng những bức tượng danh nhân hiện hữu vẫn phần nào phác họa nên một nền văn học đã đi cùng lịch sử của một dân tộc, nơi bản sắc được hình thành qua ngôn ngữ và những câu chuyện được chia sẻ. Mỗi chân dung mang một hình dáng và biểu cảm khác nhau tương ứng với cuộc đời, tính cách của mỗi tác giả. Tất cả tạo nên một không gian cân bằng, tiết chế trong tổng thể trưng bày của Bảo tàng Văn học Việt Nam. 

Một trong những bức tượng khiến tôi dừng lại là tượng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, do nhà điêu khắc Lưu Danh Thanh tạo tác.

Hồ Xuân Hương nghiêng người, một tay cầm quạt, tay còn lại giữ lấy bút. Khi nhìn bức tượng này, tôi liên tưởng ngay tới bài thơ Vịnh cái quạt của bà.

“Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa,

Duyên em dính dán tự bao giờ,

Chành ra ba góc da còn thiếu, 

Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa. 

Mát mặt anh hùng khi tắt gió, 

Che đầu quân tử lúc sa mưa. 

Nâng niu ướm hỏi người trong trướng, 

Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?”

– Vịnh Cái Quạt I (Hồ Xuân Hương)

Đặt bài thơ vào trong không gian này, tự nhiên thấy bức tượng trở nên rõ ràng hơn, không chỉ là hình dáng, mà là cả cái giọng điệu rất riêng của Hồ Xuân Hương.

Tái hiện dòng chảy văn học dân tộc qua các lớp tư liệu

Đi vào bên trong là không gian lưu trữ và bảo tồn hàng vạn hiện vật, với diện tích trưng bày hơn 2000 m². Đây là nơi trình hiện tiến trình lịch sử văn học Việt Nam từ thời Lý cho tới hiện tại, với nhiều tư liệu và hiện vật gắn với các danh nhân trong văn đàn Việt: Đại thi hào Nguyễn Du; nhà văn hóa lỗi lạc, anh hùng giải phóng dân tộc Nguyễn Trãi; nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu; nhà văn Nam Cao; nhà thơ Nguyễn Đình Thi; nhà thơ Xuân Diệu; nhà thơ Tố Hữu… Mỗi hiện vật đều hàm chứa những câu chuyện riêng về đời sống và hành trình sáng tác của người viết.

Ấn tượng đầu tiên khi bước vào tầng đầu tiên của bảo tàng là một bức tường lớn khắc trích câu thơ trong Truyện Kiều: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, được thể hiện bằng ba ngôn ngữ. Sau khi tìm hiểu, tôi mới biết những dòng chữ này trình bày tiến trình phát triển của chữ viết tiếng Việt, từ chữ Hán, sang giai đoạn Hán-Việt, rồi đến tiếng Việt hiện đại mà chúng ta đang sử dụng ngày nay. Nhưng đến nay, tôi vẫn băn khoăn vì sao không có sự hiện diện của chữ Nôm. Xét về lịch sử chữ viết, chữ Nôm được xem là hệ thống văn tự đầu tiên cho phép người Việt ghi chép tiếng Việt trên cơ sở cải biên từ chữ Hán. Vì vậy, trên bình diện học thuật, chữ Nôm là một mắt xích quan trọng trong tiến trình phát triển của chữ viết tiếng Việt. Đây là câu hỏi tôi đã giữ lại trong suốt hai năm qua và cũng là lý do khiến tôi muốn quay trở lại nơi này vào một thời điểm khác, để tìm thêm một cách lý giải.

Phần trưng bày trong nhà được tổ chức theo ba tầng:

Tầng 1: Không gian khánh tiết, trình hiện “Văn học Việt Nam thời kỳ cổ-trung đại” (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX). Bên cạnh đó, bảo tàng còn giới thiệu về hệ thống học hành, thi cử ở Việt Nam vào thế kỷ XIX.

Tầng 2: Trình bày về “Các nhà văn Giải thưởng Hồ Chí Minh”, cùng tổ hợp “Không gian văn hóa Xóm Chòi”-nơi Hội Văn nghệ Việt Nam từng đặt trụ sở và hoạt động trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Tầng 3: Không gian tôn vinh “Các nhà văn Giải thưởng Nhà nước” và tiến trình các kỳ đại hội Hội Nhà văn Việt Nam.

Lời kết

Tôi rời khỏi bảo tàng với đôi ba dòng suy nghĩ mông muội, song hành cùng niềm tự hào với những danh nhân văn học là suy tư về việc văn học Việt Nam nguyên bản có thể đang dần bị khước từ khỏi bình diện đời sống. Cả buổi chiều hôm đó bảo tàng chỉ có mình tôi đến tham quan, kho tàng văn chương đồ sộ đó gần như bị lãng quên và những cây bút nhà văn, tác giả trẻ có thể kể tên ngày càng ít khi văn hóa đọc đang dần suy giảm. 

Liệu rằng 50 năm nữa, bảo tàng có tiếp tục nhận thêm một nhà văn, tác giả lỗi lạc đương thời nào, hay câu hỏi năng trĩu hơn chính ngày sau bảo tàng có còn tồn tại để kể về quá khứ hay rồi cũng sẽ bị chôn vùi theo thời gian.

Chính ở điểm đó, tôi chợt nhớ đến hai câu thơ thể hiện nỗi băn khoăn quen thuộc, không phải của một không gian, mà của một con người:

“Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”

Hai câu thơ cuối trong Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du mang theo một câu hỏi đã tồn tại hơn ba trăm năm: liệu sau này còn ai nhớ, còn ai đồng cảm? Câu hỏi mà Nguyễn Du đặt ra dường như đến nay vẫn chưa có lời hồi đáp. Còn tôi, có lẽ sẽ quay trở lại trong năm nay, chỉ để tìm một câu trả lời nhỏ hơn về thắc mắc về chữ Nôm mà tôi đã đặt ra.

Nếu có dịp đến Hà Nội, bên cạnh những điểm quen thuộc như Phố Cổ, Nhà thờ Thành Giuse, Hồ Hoàn Kiếm, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh hay Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Bảo tàng Văn học Việt Nam là một điểm dừng có thể cân nhắc. Bảo tàng Văn học Việt Nam mang lại nhiều trải nghiệm thú vị nơi bạn có thể bắt gặp những tên tuổi văn chương từng được biết đến qua trang sách, hoặc đơn giản là dành một khoảng thời gian ngắn để đi qua đời sống văn học Việt Nam qua nhiều giai đoạn khác nhau.

Hình ảnh minh họa của bài viết được người viết chụp trong chuyến thăm Bảo tàng Văn học Việt Nam vào tháng 9/2024.

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành